Lý Gia Thành-Siêu tỷ phú

Tỷ phú người Hồng Kông Li Ka-Shing đã chia sẻ một số bí quyết tiêu tiền và vạch ra kế hoạch mua nhà trong 5 năm.

Giáo Sư John Vũ

Giáo sư John Vu là một nhà khoa học nổi tiếng ở nước Mỹ đứng trong Top 10 những người sáng tạo nhất thế giới.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2016

công việc và mức lương nhóm ngành CNTT

Xin chào! Mình dạo quanh các diễn đàn, group về CNTT nói chung gặp khá nhiều câu hỏi về vấn đề “lương bổng” sau khi tốt nghiệp ĐH – CĐ chuyên ngành CNTT. Bản thân mình cũng đã từng có vài thắc mắc về một số ngành mình đang học sẽ như thế nào sau khi ra trường. Và sau đây là bộ infographic mô tả công việc và mức lương nhóm ngành CNTT mà mình tìm được. Hi vọng bộ infographic này sẽ giúp các bạn trả lời được câu hỏi của bản thân mình.
Lương ngành CNTT


Mức lương Giám đốc Công nghệ thông tin
Giám đốc Công nghệ thông tin – CIO
Lương Trưởng phòng Công nghệ thông tin
Trưởng phòng Công nghệ thông tin – IT Manager
Lương Tư vấn ERP
Tư vấn ERP – ERP Consultant
Lương Quản lý hệ thống
Quản lý hệ thống – Network/System Administrator
Lương Lập trình viên
Lập trình viên – Software Developer/Programmer
Lương Thiết kế web
Thiết kế web – Web Developer/Web Designer
Lương Trưởng phòng Digital Marketing
Trưởng phòng Digital Marketing – Digital Marketing Manager
Lương Kiến trúc sư CNTT/HTTT
Kiến trúc sư CNTT/HTTT – IT Architecture/Infrastructure
Lương Hỗ trợ Công nghệ thông tin
Hỗ trợ Công nghệ thông tin – IT Helpdesk Support
Lương Trưởng phòng/Giám đốc kinh doanh
Trưởng phòng/Giám đốc kinh doanh – Sales Manager/Director
Lương Trưởng phòng/Giám đốc phát triển kinh doanh
Trưởng phòng/Giám đốc phát triển kinh doanh – Business Development Manager/Director


Nguồn: FUNiX

Quy tắc theo nhóm nguyên âm

1. Hãy đưa ra quy tắc cho các trường hợp ngoại lệ của Quy tắc 1, Quy tắc 2, Quy tắc 4 và Quy tắc 5?   
2. Quy luật khái quát của năm quy tắc trên là gì? 
  Dưới đây là phần đáp án:
   Câu hỏi thứ nhất (ở cuối trang của bài viết trước), ngoại lệ hình thành quy tắc mới: “Khi nguyên âm a, e, o, u đứng trước hai phụ âm r và sau một phụ âm khác, chúng thường được đọc tương ứng là /æ/, /e/, /ɒ/, /ʌ/ và trọng âm thường rơi vào các âm này”. Cả ba âm /æ/, /e/, /ɒ/ và /ʌ/ đều được gọi là âm ngắn. Khi áp dụng quy tắc này để suy đoán (chẳng hạn khi đọc, làm bài thi), chúng ta có thể loại trừ các âm dài. Các ví dụ bao gồm: parrot, carrot, marry, carry, narrow, barrel, barrow, harry, parry, tarry, marrow, harrow; Terror, cherry, perry, terrible, berry, ferry, merry, terry, sherry, terrify; Corridor, sorry, borrow, lorry, horrible, morrow, corrie, torrid, horrify; Curry, hurry, current, occurrence, recurrence.
   Cần lưu ý là trước a, e, o, u có một phụ âm vì khi chúng đứng ngay vị trí đầu sẽ có nhiều trường hợp ngoại lệ hơn (array, arrange, …).   Ví dụ ngoại lệ: corral (/kəˈrɑːl/), worry (/ˈwʌri/), surround, surrender (u đọc là /ə/).
  Câu hỏi thứ hai (ở cuối trang của bài viết trước), quy tắc khái quát: “Khi các nguyên âm đứng trước r hoặc tiếp sau là một phụ âm khác, chúng thường được đọc thành âm dài và trọng âm thường rơi vào âm dài”. 
  Khái niệm âm dài (long vowel sounds), âm ngắn (short vowel sounds), âm đôi (double vowel sounds) là nội dung chính của bài viết chia sẻ này. Việc nắm chắc các nhóm âm sẽ trợ giúp bạn phát triển âm nhanh và vững vì vị trí cơ miệng (môi, răng, lưỡi, cằm) sẽ tương ứng với nhóm và thứ tự của từng nhóm âm như quan sát trong video thứ hai của bài viết “Luyện phát âm tiếng Anh“. Ngoài ra, các quy luật âm sẽ phụ thuộc đáng kể theo từng nhóm âm như được xem xét chi tiết hơn ở nội dung sau. Do vậy, nhóm âm còn giúp bạn dễ dàng phát hiện, ghi nhớ các quy luật âm ở mức độ khái quát hơn và “ghi điểm”.
   Đầu tiên, chúng ta sẽ quan sát bảng âm quốc tế – IPA (International Phonetic Alphabet) dưới đây:

     Bảng âm này được sử dụng để viết phiên âm, nghĩa là khi tra từ điển, chúng ta sẽ thấy được từ tiếng Anh đó được đọc như thế nào. Chẳng hạn từ “student” được phiên âm khi tra từ điển là /ˈstjuːd(ə)nt/. Mỗi nguyên âm, phụ âm đơn sẽ tương ứng với một hoặc một vài âm trong bảng nêu trên; nguyên âm, phụ âm ghép cũng tương tự tuỳ vào vị trí của chúng trong từ vựng. Ví dụ nguyên âm “i” sẽ tương ứng với ký hiệu âm trong bảng là /ɪ/ (trong từ hit), /ɜː/ (trong từ sir) hoặc /aɪ/ (trong từ like). Khi bạn đã thuần thục với hệ thống phiên âm thì gần như bạn không cần phải nhấn loa mà chỉ cần dành một tích tắc để lướt qua phiên âm là đủ. Ngoài ra, phiên âm có tác dụng rất lớn trong việc phát hiện quy luật âm đơn vị, âm nhấn, nghe và phát âm chuẩn như phân tích tại phần cuối của bài viết “Cách học quy luật âm đơn vị trong tiếng Anh“.
   Chúng ta chỉ xem xét nửa trên của bảng âm là các âm của nguyên âm và tạm thời bỏ qua nửa dưới là các phụ âm. Ở phần nguyên âm, nửa bên tay trái là các nguyên âm ngắn (short vowel sounds) và các nguyên âm dài (long vowel sounds), nửa bên tay phải là nguyên âm đôi (double vowel sounds hay diphthong).   Nguyên âm ngắn gồm bảy âm: /ɪ/ (như trong sit), /ʊ/ (foot), /e/ (many), /ə/ (aloud), /æ/ (cat), /ʌ/ (cut), và /ɒ/ (hot).   Nguyên âm dài gồm năm âm: /iː/ (như trong heat), /uː/ (food), /ɜː/ (bird), /ɔː/ (sport), và /ɑː/ (car).
   Âm dài thường có dấu hai chấm (:) phía sau, âm ngắn không có.   Nguyên âm đôi gồm tám âm: /ɪə/ (here), /ei/ (date), /ʊə/ (sure), /ɔɪ/ (boy), /əʊ/ (snow), /eə/ (care), /aɪ/ (style), /aʊ/ (house).   Cách viết phiên âm như trên đôi khi không nhất quán giữa các từ điển làm cho người học khá bối rối. Nghĩa là khi bạn tra các từ điển khác nhau, phiên âm có thể được viết khác nhau (dù nghe hoàn toàn giống nhau). Bạn xem thêm chi tiết ở gần cuối bài viết “Lựa chọn từ điển khi có sự khác biệt về âm“. Ngoài ra, các từ điển cũng có thể có sự khác biệt nhỏ với bảng âm quốc tế IPA. 
Chẳng hạn nguyên âm “i” trong từ “like” nếu theo bảng phiên âm quốc tế được viết là /aɪ/, nhưng trong từ điển Oxford lại được viết là /ʌɪ/ mặc dù âm của chúng giống hệt nhau.   Trở lại hai câu hỏi và trả lời ở đầu trang bài viết, đó chính là hai quy tắc liên quan đến nhóm âm ngắn và âm dài. Dưới đây chúng ta bổ sung thêm hai quy tắc theo phân nhóm âm:   Quy tắc 1: “Trong từ có một âm tiết và khi nguyên âm chỉ đứng trước phụ âm, nguyên âm thường là âm ngắn”. Các ví dụ bao gồm: at, bat, dad, catch, flag, bed, hot, not, frog, box, hit, him, film, cut, bus.   Trường hợp sau phụ âm tiếp tục là một nguyên âm, nguyên âm có thể đọc là âm dài. Chẳng hạn nguyên âm a trong date, dare. Chúng ta lưu ý các nguyên âm khi đứng trước r như trong bài viết trước.   Quy tắc 2: “Khi nguyên âm đứng trước hai phụ âm, nguyên âm thường là âm ngắn”. Vì là quy tắc khái quát nên có vô số ví dụ, chẳng hạn: baggage, cottage, battle, baggage, cattle, massive, dress, temple, member, bottle, bottom, still, little, shuttle, muscle. Các trường hợp lưu ý giống như Quy tắc 1 khi nguyên âm đứng trước phụ âm r nêu trên.   Quy tắc 3: “Khi nguyên âm a, e đứng trước n, nt, nce; o đứng trước n ở cuối từ, chúng thường được đọc là /ə/”. Ví dụ gồm: distant, librarian, important, American, elephant, constant, acceptance, accordance, balance, listen, children, parents, often, kitchen, violent, sentence, common, button, cotton, barton.   Quy tắc 4: Khi một âm được đọc là /ə/, trọng âm thường không rơi vào âm đó. Đây là quy tắc khá chặt và cũng rất hữu ích, chẳng hạn bạn khá thạo từ about (có vô số từ tương tự như vậy), nhưng bạn không để ý âm nhấn ở đâu trong quá trình học thì khi làm bài thi, bạn hoàn toàn có thể sử dụng quy tắc này. 
  Ngoại lệ: offence, hoặc thường rơi vào động từ có hai âm tiết với âm cuối là “ent” như descent, lament, intent.   Nhìn chung, trong rất nhiều trường hợp, bạn có thể dựa vào phân nhóm âm để phát hiện quy luật và suy đoán một nguyên âm được đọc như thế nào. Chẳng hạn chúng ta biết rằng a trong từ có thể có 9 âm khác nhau, dựa vào hai quy tắc trên, ít nhất chúng ta loại bỏ được các âm dài của “a”, nghĩa là “a” thường không được đọc là /eə/, /ei/, /ɔː/, /ɑː/ theo các quy tắc trên. Ngoài ra, khi kết hợp các quy tắc trên với các quy tắc sẽ được phân tích kỹ hơn ở các bài viết sau, chúng ta có thể suy luận chính xác âm đó được đọc là gì. Ví dụ nguyên âm a ở Quy tắc 1 thường được đọc đọc là /æ/.
   Dưới đây là hai câu hỏi giúp bạn tự phát hiện quy luật âm theo nhóm nguyên âm:  
 Câu hỏi 1: Hãy đưa ra một quy luật mà nguyên âm được đọc thành âm đôi.  
 Câu hỏi 2: Lấy ví dụ về ngoại lệ của hai quy tắc đầu tiên. - See more at: http://anhnguftv.edu.vn/phan-nhom-nguyen-va-phat-trien-quy-luat-theo-nhom/#sthash.Ala5q8eX.dpuf

Kinh Nghiệm Khởi Nghiệp Cho Sinh Viên

Ngày nay khởi nghiệp là một xu hướng mới trong các sinh viên đại học. Có những câu chuyện có tính cách “huyền thoại” về sinh viên mơ mộng một cái gì, bỏ học để khởi nghiệp, và trở thành Marc Zuckerberg hay Bill Gates tiếp. Tất nhiên, mọi người đều thích những câu chuyện thành công và nghĩ rằng khởi nghiệp là cách dễ dàng để làm nhiều tiền. Tuy nhiên, trong thực tế điều đó đòi hỏi nhiều nỗ lực để khởi đầu một công ty và làm cho nó thành công.

Tuần trước, một sinh viên hỏi: “Tại sao có người thành công và nhiều người thất bại. Chắc phải có công thức bí mật nào đó? Cả lớp cười to vì mọi người đều nghĩ rằng đó là chuyện đùa. Để làm cho lớp học vui hơn, tôi xác nhận: “Có chứ, có công thức thành công bí mật đấy, và nếu các bạn có thể làm điều đó, các bạn sẽ trở thành Steve Jobs hay Bill Gates ngay. Và tôi sẽ dạy công thức bí mật ngày hôm nay.” Khi cả lớp cười vang thích thú, tôi giải thích:
“Khởi nghiệp thành công không phải chỉ bằng có ý tưởng như phần lớn mọi người nghĩ. Ai cũng có thể có ý tưởng hay nhưng không đủ, vì còn một “công thức bí mật” mà họ phải làm nữa. Sinh viên kĩ thuật thường tin rằng họ có kĩ năng tạo ra websites, họ có thể viết mã, thì họ có thể khởi nghiệp. Đó là niềm tin của thời “dotcom” đã lỗi thời và tạo ra nhiều thất bại từ lâu rồi. Để thành công ngày nay, người ta phải hình thành công thức, lập kế hoạch, kiểm nghiệm, thực thi, tiếp thị và lập thế cạnh tranh. Các yếu tố này có thể được tóm tắt trong một “công thức bí mật” mà bạn sẽ học trong lớp này.”
Cả lớp cười vang vì biết tôi đùa nhưng một vài người đã tỏ ra chăm chú hơn. Tôi tiếp tục:"Hôm nay các bạn sẽ học công thức bí mật của “Sư phụ Steve Jobs truyền lại”, các bạn đã sẵn sáng chưa?" Khi mọi người cười ầm lên thì tôi nói tiếp: “Đây là câu thần chú bí mật đấy nhé: “Hãy giải quyết vấn đề mà nhiều người cần và cho họ lí do để họ sẵn sàng trả nhiều tiền cho giải pháp đó.” Tôi yêu cầu cả lớp nhắc lại câu "thần chú " này vài lần để nhập tâm rồi giải thích:
“Steve Jobs đã dùng công thức này và giải quyết vấn đề mà nhiều người cần: Họ cần máy tính nhưng không thể mua máy tính lớn giá hàng triệu đô la. Steve cung cấp máy tính nhỏ, có thể làm được nhiều điều như máy tính lớn, nhưng bán chỉ ba nghìn đô la. Chỉ trong hai năm, ông ấy đã bán được hơn hai triệu máy tính Apple . Trong vòng năm năm, Apple thâu tóm thị trường máy tính, và loại trừ hầu hết các công ty mày tính lớn ra khỏi thị trường.”
Google cũng đi theo công thức này. Các bạn nên nhớ Google không phải là công ty động cơ tìm kiếm (Search Engine) đầu tiên. Đã có bẩy công ty hoạt động vào thời đó nhưng đa số đều khó dùng, chỉ người có kĩ năng máy tính mới dùng được. Một số công ty còn đòi người dùng phải trả tiền để sử dụng động cơ tìm kiếm. Google giải quyết vấn đề này bằng việc làm cho nó dễ dùng hơn và cung cấp miễn phí. Google tuyên bố giá trị như sau: “Tại sao trả tiền cho một động cơ tìm kiếm khó dùng trong khi bạn có thể dùng một động cơ tìm kiếm “dễ dùng” mà chẳng phải trả tiền.” Trong một thời gian ngắn, Google thâu tóm thị trường, tiêu diệt công ty cạnh tranh kia và phát triển thành một công ty lớn nhất.
Nhưng đó chỉ mới là một nửa của công thức: “Giải quyết vấn đề cho nhiều người.” Google kiếm tiền qua việc quảng cáo với đề nghị: “Khi mọi người tìm gì đó liên quan tới sản phẩm của bạn, chúng tôi sẽ cho hiển thị quảng cáo của bạn nhưng bạn không phải trả chúng tôi cho đến khi người dùng bấm nút truy cập vào website của bạn. Bạn “trả tiền theo cú bấm chuột.” (Pay by click) Điều này hiệu quả hơn là những quảng cáo hiện lên một cách ngẫu nhiên. Người tìm mua sách sẽ không bao giờ chú ý tới quảng cáo xe hơi. Khi mọi người bấm vào quảng cáo mà họ quan tâm, họ có ý muốn mua thứ đó và điều đó giải quyết vấn đề cho các công ty bán hàng quảng cáo với Google nên họ hài lòng trả cho Google nhiều tiền.
Google thành công vì biết rõ công thức bí mật này.” Bây giờ các bạn đã biết về "bí mật" này thì phải áp dụng nó cho việc khởi nghiệp để thành công. Cả lớp cười vang nhưng họ biết rằng quy tắc này là yếu tố quan trọng cho việc khởi nghiệp. Ý tưởng không đủ, kỹ thuật không đủ, mà phải có thật nhiều khách hàng và cách kiếm thật nhiều tiền, mới đưa khởi nghiệp đến chỗ thành công.
Tôi đặt câu hỏi cho cả lớp: “Bạn áp dụng công thức này cho khởi nghiệp thế nào? Nếu bạn có ý tưởng, bạn phải tự hỏi: Nó có giải quyết vấn đề mà nhiều người cần hay không? (Giá trị của sản phẩm) Bao nhiêu người cần giải pháp này? (Kích cỡ thị trường) Những người này là ai? (Nhận diện khách hàng) Làm sao bạn đạt tới họ? (Cách tiếp xúc, liên lạc với khách hàng) Họ sẵn lòng trả bao nhiêu? (Thu nhập) Nó tốn bao nhiêu? (Bạn phải chi ra bao nhiêu cho giải pháp này) Giải pháp của bạn có tốt hơn những giải pháp khác không? (Chất lượng) Bạn có bằng sáng chế để tránh việc sao chép, ăn cắp tài sản trí tuệ không? (Lập thế cạnh tranh). Nếu hội đủ những điều kiện này thì khởi nghiệp có nhiều cơ hội thành công.
Vì sinh viên kĩ thuật không quen thuộc với mô hình doanh nghiệp, tôi thường rút ngắn mô hình lại bằng câu hỏi giản dị (Cái gì, Ai, và Làm sao) mà sinh viên phải trả lời trong lớp của tôi:
Cái gì: Vấn đề bạn đang định giải quyết là gì? Sản phẩm của bạn là gì? Dịch vụ của bạn là gì?
Ai: Ai là khách hàng của bạn? Ai có vấn đề?
Làm sao: Làm sao bạn giải quyết vấn đề này? Thị trường lớn thế nào? Bạn định đạt tới khách hàng thế nào? Làm sao bạn dẫn lái nhu cầu? Làm sao bạn làm tiền?
Bằng việc trả lời những câu hỏi đơn giản này, sinh viên có thể kiểm nghiệm ý tưởng của họ để xác định liệu họ có thể khởi nghiệp hay không. Mặc dù sinh viên đều biết rằng tôi đùa vì sử dụng danh từ "Công thức bí mật" nhưng đây là những quy tắc làm cho sinh viên có thể nhớ lâu hơn trong bài học giản dị. Theo thời gian, tôi đã gặp một số sinh viên khởi nghiệp thành công, và mỗi lần gặp tôi họ đều nhắc nhở "Chúng tôi đã áp dụng “công thức bí mật” của thầy dạy đấy ."

Tỷ phú Lý Gia Thành dạy cách mua nhà, xe hơi trong 5 năm

Tỷ phú người Hồng Kông Li Ka-Shing đã chia sẻ một số bí quyết tiêu tiền và vạch ra kế hoạch mua nhà trong 5 năm.

Khi bạn nghèo, hãy tiêu tiền cho người khác, Khi giàu, hãy tiêu tiền cho bản thân. Nhiều người đang làm ngược lại điều này.
Giả sử thu nhập mỗi tháng của bạn chỉ là 2.000 tệ (khoảng 7 triệu đồng), bạn vẫn có thể sống tốt – ông Li nói. Bạn hãy chia khoản thu nhập đó thành 5 phần: 600 tệ, 400 tệ, 300 tệ, 200 tệ và 500 tệ.
Khoản 600 tệ là để chi tiêu cho ăn uống, nhà cửa. Với cách sống rất giản tiện, bạn có thể chỉ tốn chưa đến 20 tệ mỗi ngày. Bữa sáng bạn có thể ăn bún, trứng và một cốc sữa. Bữa trưa ăn nhẹ và hoa quả. Bữa tối hãy tự nấu nướng, có thể là 2 món rau và một cốc sữa trước khi đi ngủ. Với cách ăn uống như thế này, bạn chỉ tiêu tốn khoảng 500-600 tệ/ tháng. Khi còn trẻ, cơ thể sẽ không gặp quá nhiều vấn đề trong vài năm với cách sống này.
Khoản 400 tệ sẽ được chi cho các mối quan hệ. Tiền điện thoại có thể là 100 tệ. Bạn có thể mời bạn bè 2 bữa trưa mỗi tháng, mỗi bữa có giá 150 tệ. Vậy bạn nên mời ai đây? Hãy luôn nhớ mời những người hiểu biết hơn bạn, giàu có hơn bạn hoặc những người có thể giúp bạn trong sự nghiệp sau này. Hãy nhớ làm việc này đều đặn mỗi tháng. Sau một năm, những mối quan hệ này chắc chắn sẽ tạo ra những giá trị to lớn cho bạn. Bạn cũng sẽ xây dựng cho bản thân một hình ảnh tốt bụng và hào phóng.
300 tệ hãy đầu tư cho học tập. Hãy dành khoảng 50-100 tệ để mua sách. Vì bạn không có nhiều tiền nên bạn phải tập trung vào học tập. Khi bạn mua sách, hãy đọc chúng cẩn thận và rút ra những bài học, chiến lược từ cuốn sách. Mỗi cuốn sau khi đọc, hãy nhớ về chúng theo ngôn ngữ riêng của mình để có thể kể lại như những câu chuyện. 200 tệ còn lại trong khoản 300 tệ này nên dành cho các khóa học đào tạo. Khi bạn có thu nhập cao hơn hoặc có tiền tiết kiệm, hãy cố gắng tham gia vào nhiều khóa đào tạo hơn. Khi bạn tham gia vào những khóa đào tạo thú vị, bạn không chỉ có thêm kiến thức mà còn được gặp gỡ những người bạn cùng chí hướng.
200 tệ để dành cho đi du lịch nước ngoài. Tự thưởng cho mình ít nhất một chuyến du lịch trong năm để có nhiều hơn trải nghiệm trong cuộc sống. Hãy chọn những nhà nghỉ dành cho thanh niên để tiết kiệm chi phí. Trong vài năm, bạn sẽ đi được một số nước và có nhiều trải nghiệm khác nhau. Hãy sử dụng trải nghiệm đó để tạo cảm hứng cho bản thân, kích thích niềm đam mê trong công việc.
500 tệ cuối cùng hãy dùng để đầu tư kinh doanh. Tiết kiệm 500 tệ trong ngân hàng, tích lũy dần để có số vốn khởi nghiệp. Số tiền này nên dùng để kinh doanh nhỏ lẻ thôi vì nó an toàn hơn. Hãy tìm nguồn hàng để mua buôn, tìm kiếm sản phẩm để bán. Trường hợp xấu nhất là thua lỗ thì bạn cũng không mất quá nhiều. Tuy nhiên, khi mới bắt đầu kiếm tiền, bạn sẽ tự tin và can đảm hơn, đồng thời có cả những kinh nghiệm trong việc quản lý những thương vụ nhỏ. Tích lũy dần dần rồi bạn sẽ có những kế hoạch đầu tư dài hạn.
Nếu sau một năm nỗ lực, mức lương của bạn vẫn là 2.000 tệ, hãy xem lại bản thân.
Bạn cũng nên tông việc bán thời gian. Bán hàng là một công việc đầy thách thức nhưng đó là cách nhanh nhất để tiếp thu được nghệ thuật bán hàng. Tất cả những doanh nhân thành công đều từng là người bán hàng xuất sắc. Họ có khả năng bán những giấc mơ và tầm nhìn.
Cố gắng mua quần áo, giày dép hạn chế nhất có thể. Bạn có thể mua tất cả chúng khi bạn giàu. Hãy tiết kiệm tiền và mua một số món quà cho người thân và kể với họ những kế hoạch, mục tiêu tài chính của bạn. Nói với họ tại sao bạn phải sống tiết kiệm, những nỗ lực, hướng đi và ước mơ của mình.
Vấn đề không phải là bạn kiếm được bao nhiêu, mà hãy luôn nhớ chia thu nhập thành 5 phần. Tích cực đầu tư vào mối quan hệ, bạn sẽ mở rộng mạng lưới liên lạc, thu nhập sẽ tăng lên. Tích cực đầu tư vào học tập, bạn sẽ tăng sự tự tin. Tăng cường đầu tư vào kỳ nghỉ, bạn sẽ mở mang tầm nhìn. Tăng cường đầu tư vào tương lại sẽ giúp bạn tăng thu nhập.
Cuộc sống có thể được gây dựng. Sự nghiệp có thể được lên kế hoạch. Hạnh phúc có thể được chuẩn bị. Hãy nên lên kế hoạch ngay từ bây giờ. Khi bạn nghèo, hãy ở nhà ít thôi, ra ngoài nhiều hơn. Khi bạn giàu, hãy ở nhà nhiều hơn và ra ngoài ít hơn. Đó là nghệ thuật sống. Khi bạn nghèo, hãy tiêu tiền cho người khác, Khi giàu, hãy tiêu tiền cho bản thân. Nhiều người đang làm ngược lại điều này.
Khi nghèo, hãy đối tốt với người khác, đừng tính toán. Khi giàu, hãy học cách để người khác đối tốt với mình, Khi nghèo, hãy ném mình ra ngoài và để người khác vắt kiệt bạn, Khi giàu, hãy giữ gìn bản thân, đừng cho phép người khác lợi dụng bạn. Đây là những bí quyết phức tạp trong cuộc sống mà nhiều người không hiểu.
Khi giàu, hãy tiêu tiền để người khác thấy bạn nổi bật. Khi giàu, đừng khoe khoang. Hãy lẳng lặng tiêu tiền cho bản thân mình, Khi nghèo, hãy hào phóng. Khi giàu, đừng để người khác nhìn bạn như một người hoang phí.
Chẳng có gì sai trái khi bạn còn trẻ. Không phải sợ nghèo. Bạn cần biết cách đầu tư vào bản thân, hãy khôn ngoan và nhìn xa hơn. Bạn cần biết điều gì là quan trọng trong cuộc sống và cái gì đáng để đầu tư.
Khi chi phí sinh hoạt không còn là vấn đề gì nặng nề, hãy sử dụng số tiền dư để theo đuổi ước mơ. Mở rộng đôi cánh và dám ước mơ.
Lý thuyết nổi tiếng của Harvard là: Sự khác nhau giữa số phận của con người khác nhau được quyết định bởi việc mà người đó làm trong lúc rảnh rỗi từ 20h tới 22h. Hãy sử dụng 2 giờ này để học tập, suy nghĩ và tham gia vào những bài học có ý nghĩa. Nếu bạn kiên trì trong nhiều năm, thành công sẽ đến.

Tỉ phú Lý Gia Thành và con đường trở thành người giàu nhất Hong Kong

Có lẽ một trong những yếu tố quan trọng nhất mang lại thành công của tỷ phú Lý Gia Thành là niềm đam mê dành cho công việc và chính sách “không nợ”.

03_11352672


03_11352672


03_11352672
Tỷ phú Hong Kong Lý Gia Thành có thể không còn là người giàu nhất châu Á, nhưng ông vẫn đang nắm giữ khối tài sản trị giá 20,1 tỷ USD.
Con đường làm giàu của Lý Gia Thành rất gian nan và đáng ngưỡng mộ từ một cậu bé phải bỏ học để phụ giúp gia định. Giờ đây, ông là một trong những người giàu nhất thế giới. Lý Gia Thành mở nhà máy đầu tiên ở tuổi 22 và chỉ trong vài năm đã gặt hái thành công rực rỡ với tư cách nhà sản xuất, nhà đầu tư bất động sản, doanh nhân và nhà đầu tư.
Lý Gia Thành là một trong những nhà đầu tư lớn đổ tiền vào Facebook và cuối tháng 3 vừa qua, ông đã mua công ty viễn thông O2 của Anh với giá 15 tỷ USD.
Lý Gia Thànhg phải gánh vác trách nhiệm lo kinh tế cho gia đình từ khi còn nhỏ. Sau khi gia đình ông từ miền Nam Trung Quốc di cư sang Hong Kong trong Thế chiến thứ 2, cha ông qua đời vì bệnh lao. Lý Gia Thành phải bỏ học khi chưa đầy 16 tuổi để làm công nhân tại một nhà máy.

Trong 4 năm dưới sự chiếm đóng của quân Nhật, ông gửi 90% số tiền kiếm được về phụ giúp mẹ ông. Có lẽ thành công khi còn trẻ với tư cách lao động chính trong nhà đã dạy cho ông những giá trị lớn, tạo tiền đề cho sự nổi tiếng về lòng bác ái của ông ngày nay.
Lý chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những kinh nghiệm làm việc khi còn là một đứa trẻ. “Bất kể bạn khỏe mạnh và tài năng đến đâu, nếu bạn không có một tấm lòng rộng lượng và hào hiệp, bạn sẽ không bao giờ thành công”, ông Lý nói.
Ông Lý đã chứng tỏ là người có tầm nhìn và một lãnh đạo tài ba khi khai trương nhà máy đầu tiên vào năm 1950 ở độ tuổi 22. Nhà máy, Cheung Kong Industries, sản xuất hoa nhựa. Ông dự đoán rằng ngành nhựa và chất dẻo sẽ bùng nổ, và ông đã đúng.
Lý cho rằng thành công của Cheung Kong – nhà máy ông khởi nghiệp chỉ với 50.000 USD – là nhờ việc ông quyết tâm học hỏi và tìm hiểu về những xu hướng mới nhất. “Mối tương quan giữa kiến thức và thương mại – chìa khóa của thành công – ngày càng chặt chẽ hơn bao giờ hết”, ông Lý chia sẻ.
Mặc dù phải bỏ học từ khi còn nhỏ và chưa bao giờ có bằng đại học, song ông Lý luôn luôn là “kẻ ngốn sách” và cho rằng thành công của ông là nhờ khả năng tự học. Chẳng hạn ông tự mình hoàn tất sổ sách kế toán của Cheung Kong trong năm đầu tiên hoạt động mà không có một chút kiến thức nào về lĩnh vực này cả – chỉ đơn giản là ông tự học từ sách giáo khoa mà thôi.
Cùng với kiến thức và hiểu biết sâu sắc, Lý luôn coi lòng trung thành và danh tiếng là chìa khóa để thành công. Trong cuộc phỏng vấn năm 2006 với tạp chí Forbes, ông nói “Bất kỳ khi nào tôi nói “có” với một người nào đấy, đó chính là bản hợp đồng”.
Năm 1956, Lý đã từ chối một đề nghị có thể kiếm cho ông thêm 30% lợi nhuận (và cho phép ông mở rộng nhà máy) chỉ vì ông đã “hứa mồm” với một khách hàng khác. Giờ đây, ông vẫn luôn tuân thủ nguyên tắc này, kể cả khi điều đó đồng nghĩa với việc mất tiền.
Tầm nhìn xa trông rộng của Lý là với ngành nhựa và chất dẻo. Sau đó, ông một lần nữa thành công khi lao vào hoạt động phát triển bất động sản năm 1979 với việc mua lại Hutchison Whampoa – tạo tiền đề cho ông trở thành ông trùm bất động sản trước khi thị trường Hong Kong bùng nổ.
Tuy chủ yếu nổi tiếng với tư cách nhà phát triển bất động sản, song các công ty của Lý đang kiểm soát 70% hoạt động cảng biển và phần lớn hoạt động viễn thông và dịch vụ công tại Hong Kong. Lý cũng sở hữu phần lớn cổ phần tại Husky Energy, công ty của Canada. Lý đầu tư tài sản và quyền lực của mình vào nhiều lĩnh vực và vùng địa lý khác nhau, cho thấy ông không sợ phải học và trải nghiệm những điều mới mẻ.
Lý bố trí cổ phần đầu tư một cách có chiến lược nhằm đảm bảo an toàn bất chấp nền kinh tế có biến động ra sao. “Tôi không quá lạc quan khi thị trường tăng trưởng tốt và cũng không quá bi quan khi thị trường ảm đạm”, ông nói.
Tuy nắm giữ nhiều cổ phần, song tính tiết kiệm – vốn mang tính sống còn trong thời thơ ấu của Lý – vẫn còn đi theo ông trong nghề nghiệp hiện tại. Chính sách “không vay nợ” của ông có nghĩa là các công ty hoạt động sao cho càng vay ít nợ càng tốt và bản thân Lý mua bất động sản bằng tiền kiếm được nhằm duy trì mức nợ cá nhân bằng 0.
Thói quen tài chính lành mạnh đã giúp Lý có được “tự do” để đầu tư vào công nghệ như một “sở thích được ăn cả, ngã về không” thông qua Horizons Ventures Ltd. Người bạn cũ của ông, Solina Chau, đang điều hành quỹ công nghệ này.
Lý là một trong những nhà đầu tư quy mô lớn đầu tiên đổ tiền vào Facebook. Ông Lýi chỉ đầu tư vào công nghệ mà ông coi là “đột phá” và nâng cao khả năng cạnh tranh của ông.
Lý thích đổ nguồn “tiền dự phòng” (mad money) vào loại hình đầu tư đột phá này thay vì những thứ hữu hình. Lý luôn được coi là người giản dị, ông đeo chiếc đồng hồ điện tử giá 30 bảng Anh trong suốt những năm 1990.
Có lẽ một trong những yếu tố quan trọng nhất mang lại thành công của Lý là niềm đam mê ông dành cho công việc. Năm 2010, ông nói với tạp chí Forbes “Niềm vui thích quan trọng nhất đối với tôi là làm việc chăm chỉ và kiếm nhiều lợi nhuận hơn”.
Tuy chưa có dự định nghỉ hưu, song việc ông Lý, 87 tuổi, dồn hết cổ phần vào 2 công ty dường như là động thái chuẩn bị cho việc chuyển giao quyền lực cho người con trai cả, Victor.
                                                                                                                                                  Sưu Tầm.