Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2016

Quy tắc theo nhóm nguyên âm

1. Hãy đưa ra quy tắc cho các trường hợp ngoại lệ của Quy tắc 1, Quy tắc 2, Quy tắc 4 và Quy tắc 5?   
2. Quy luật khái quát của năm quy tắc trên là gì? 
  Dưới đây là phần đáp án:
   Câu hỏi thứ nhất (ở cuối trang của bài viết trước), ngoại lệ hình thành quy tắc mới: “Khi nguyên âm a, e, o, u đứng trước hai phụ âm r và sau một phụ âm khác, chúng thường được đọc tương ứng là /æ/, /e/, /ɒ/, /ʌ/ và trọng âm thường rơi vào các âm này”. Cả ba âm /æ/, /e/, /ɒ/ và /ʌ/ đều được gọi là âm ngắn. Khi áp dụng quy tắc này để suy đoán (chẳng hạn khi đọc, làm bài thi), chúng ta có thể loại trừ các âm dài. Các ví dụ bao gồm: parrot, carrot, marry, carry, narrow, barrel, barrow, harry, parry, tarry, marrow, harrow; Terror, cherry, perry, terrible, berry, ferry, merry, terry, sherry, terrify; Corridor, sorry, borrow, lorry, horrible, morrow, corrie, torrid, horrify; Curry, hurry, current, occurrence, recurrence.
   Cần lưu ý là trước a, e, o, u có một phụ âm vì khi chúng đứng ngay vị trí đầu sẽ có nhiều trường hợp ngoại lệ hơn (array, arrange, …).   Ví dụ ngoại lệ: corral (/kəˈrɑːl/), worry (/ˈwʌri/), surround, surrender (u đọc là /ə/).
  Câu hỏi thứ hai (ở cuối trang của bài viết trước), quy tắc khái quát: “Khi các nguyên âm đứng trước r hoặc tiếp sau là một phụ âm khác, chúng thường được đọc thành âm dài và trọng âm thường rơi vào âm dài”. 
  Khái niệm âm dài (long vowel sounds), âm ngắn (short vowel sounds), âm đôi (double vowel sounds) là nội dung chính của bài viết chia sẻ này. Việc nắm chắc các nhóm âm sẽ trợ giúp bạn phát triển âm nhanh và vững vì vị trí cơ miệng (môi, răng, lưỡi, cằm) sẽ tương ứng với nhóm và thứ tự của từng nhóm âm như quan sát trong video thứ hai của bài viết “Luyện phát âm tiếng Anh“. Ngoài ra, các quy luật âm sẽ phụ thuộc đáng kể theo từng nhóm âm như được xem xét chi tiết hơn ở nội dung sau. Do vậy, nhóm âm còn giúp bạn dễ dàng phát hiện, ghi nhớ các quy luật âm ở mức độ khái quát hơn và “ghi điểm”.
   Đầu tiên, chúng ta sẽ quan sát bảng âm quốc tế – IPA (International Phonetic Alphabet) dưới đây:

     Bảng âm này được sử dụng để viết phiên âm, nghĩa là khi tra từ điển, chúng ta sẽ thấy được từ tiếng Anh đó được đọc như thế nào. Chẳng hạn từ “student” được phiên âm khi tra từ điển là /ˈstjuːd(ə)nt/. Mỗi nguyên âm, phụ âm đơn sẽ tương ứng với một hoặc một vài âm trong bảng nêu trên; nguyên âm, phụ âm ghép cũng tương tự tuỳ vào vị trí của chúng trong từ vựng. Ví dụ nguyên âm “i” sẽ tương ứng với ký hiệu âm trong bảng là /ɪ/ (trong từ hit), /ɜː/ (trong từ sir) hoặc /aɪ/ (trong từ like). Khi bạn đã thuần thục với hệ thống phiên âm thì gần như bạn không cần phải nhấn loa mà chỉ cần dành một tích tắc để lướt qua phiên âm là đủ. Ngoài ra, phiên âm có tác dụng rất lớn trong việc phát hiện quy luật âm đơn vị, âm nhấn, nghe và phát âm chuẩn như phân tích tại phần cuối của bài viết “Cách học quy luật âm đơn vị trong tiếng Anh“.
   Chúng ta chỉ xem xét nửa trên của bảng âm là các âm của nguyên âm và tạm thời bỏ qua nửa dưới là các phụ âm. Ở phần nguyên âm, nửa bên tay trái là các nguyên âm ngắn (short vowel sounds) và các nguyên âm dài (long vowel sounds), nửa bên tay phải là nguyên âm đôi (double vowel sounds hay diphthong).   Nguyên âm ngắn gồm bảy âm: /ɪ/ (như trong sit), /ʊ/ (foot), /e/ (many), /ə/ (aloud), /æ/ (cat), /ʌ/ (cut), và /ɒ/ (hot).   Nguyên âm dài gồm năm âm: /iː/ (như trong heat), /uː/ (food), /ɜː/ (bird), /ɔː/ (sport), và /ɑː/ (car).
   Âm dài thường có dấu hai chấm (:) phía sau, âm ngắn không có.   Nguyên âm đôi gồm tám âm: /ɪə/ (here), /ei/ (date), /ʊə/ (sure), /ɔɪ/ (boy), /əʊ/ (snow), /eə/ (care), /aɪ/ (style), /aʊ/ (house).   Cách viết phiên âm như trên đôi khi không nhất quán giữa các từ điển làm cho người học khá bối rối. Nghĩa là khi bạn tra các từ điển khác nhau, phiên âm có thể được viết khác nhau (dù nghe hoàn toàn giống nhau). Bạn xem thêm chi tiết ở gần cuối bài viết “Lựa chọn từ điển khi có sự khác biệt về âm“. Ngoài ra, các từ điển cũng có thể có sự khác biệt nhỏ với bảng âm quốc tế IPA. 
Chẳng hạn nguyên âm “i” trong từ “like” nếu theo bảng phiên âm quốc tế được viết là /aɪ/, nhưng trong từ điển Oxford lại được viết là /ʌɪ/ mặc dù âm của chúng giống hệt nhau.   Trở lại hai câu hỏi và trả lời ở đầu trang bài viết, đó chính là hai quy tắc liên quan đến nhóm âm ngắn và âm dài. Dưới đây chúng ta bổ sung thêm hai quy tắc theo phân nhóm âm:   Quy tắc 1: “Trong từ có một âm tiết và khi nguyên âm chỉ đứng trước phụ âm, nguyên âm thường là âm ngắn”. Các ví dụ bao gồm: at, bat, dad, catch, flag, bed, hot, not, frog, box, hit, him, film, cut, bus.   Trường hợp sau phụ âm tiếp tục là một nguyên âm, nguyên âm có thể đọc là âm dài. Chẳng hạn nguyên âm a trong date, dare. Chúng ta lưu ý các nguyên âm khi đứng trước r như trong bài viết trước.   Quy tắc 2: “Khi nguyên âm đứng trước hai phụ âm, nguyên âm thường là âm ngắn”. Vì là quy tắc khái quát nên có vô số ví dụ, chẳng hạn: baggage, cottage, battle, baggage, cattle, massive, dress, temple, member, bottle, bottom, still, little, shuttle, muscle. Các trường hợp lưu ý giống như Quy tắc 1 khi nguyên âm đứng trước phụ âm r nêu trên.   Quy tắc 3: “Khi nguyên âm a, e đứng trước n, nt, nce; o đứng trước n ở cuối từ, chúng thường được đọc là /ə/”. Ví dụ gồm: distant, librarian, important, American, elephant, constant, acceptance, accordance, balance, listen, children, parents, often, kitchen, violent, sentence, common, button, cotton, barton.   Quy tắc 4: Khi một âm được đọc là /ə/, trọng âm thường không rơi vào âm đó. Đây là quy tắc khá chặt và cũng rất hữu ích, chẳng hạn bạn khá thạo từ about (có vô số từ tương tự như vậy), nhưng bạn không để ý âm nhấn ở đâu trong quá trình học thì khi làm bài thi, bạn hoàn toàn có thể sử dụng quy tắc này. 
  Ngoại lệ: offence, hoặc thường rơi vào động từ có hai âm tiết với âm cuối là “ent” như descent, lament, intent.   Nhìn chung, trong rất nhiều trường hợp, bạn có thể dựa vào phân nhóm âm để phát hiện quy luật và suy đoán một nguyên âm được đọc như thế nào. Chẳng hạn chúng ta biết rằng a trong từ có thể có 9 âm khác nhau, dựa vào hai quy tắc trên, ít nhất chúng ta loại bỏ được các âm dài của “a”, nghĩa là “a” thường không được đọc là /eə/, /ei/, /ɔː/, /ɑː/ theo các quy tắc trên. Ngoài ra, khi kết hợp các quy tắc trên với các quy tắc sẽ được phân tích kỹ hơn ở các bài viết sau, chúng ta có thể suy luận chính xác âm đó được đọc là gì. Ví dụ nguyên âm a ở Quy tắc 1 thường được đọc đọc là /æ/.
   Dưới đây là hai câu hỏi giúp bạn tự phát hiện quy luật âm theo nhóm nguyên âm:  
 Câu hỏi 1: Hãy đưa ra một quy luật mà nguyên âm được đọc thành âm đôi.  
 Câu hỏi 2: Lấy ví dụ về ngoại lệ của hai quy tắc đầu tiên. - See more at: http://anhnguftv.edu.vn/phan-nhom-nguyen-va-phat-trien-quy-luat-theo-nhom/#sthash.Ala5q8eX.dpuf

0 nhận xét:

Đăng nhận xét